GIỚI THIỆU CHUNG

   Địa chỉ:  Vĩnh Ô - Vĩnh Linh - Quảng Trị

Email :  qti-vinhlinh-thvinho@edu.viettel.vn

Điện thoại :0965419111

 

         

            Vĩnh Ô có lịch sử lâu đời sống ở thượng nguồn sông Bến Hải, là vị trí chiến lược đặc thù là tuyến hành lang hiểm yếu cho cách mạng Việt Nam thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Vĩnh Ô có tổng dân số là 989 người với diện tích 98,06km2, Phía Bắc giáp huyện Lệ Thủy - tỉnh Quảng Bình; Phía Nam giáp Gio Linh – Cam Lộ - Hướng Hiệp (Đakrông); phía đông giáp Vĩnh Hà (Vĩnh Linh); phía Tây giáp Hướng Lập (Hướng Hóa). Nhân dân Vĩnh Ô trong suốt chiều dài lịch sử vừa bền bỉ chiến đấu, hi sinh cùng dân tộc đánh bại các thế lực xâm lược, vừa phải thường xuyên chống chọi với thiên tai khắc nghiệt. Với tấm lòng kiên trung bất khuất, ý chí gang thép của nhân dân Vĩnh Ô càng thể hiện rực rỡ qua các thời kì đấu tranh cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

       Lịch sử Trường Tiểu học Vĩnh Ô là một bộ phận không thể thiếu của lịch sử Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Ô nói riêng và lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung.

      Việc gìn giữ và phát huy những truyền thống tốt đẹp của quê hương Vĩnh Ô trong thời kì đổi mới có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Nhằm tuyên truyền giáo dục tinh thần cách mạng, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần "Tôn sư trọng đạo", "Tiên học lễ, hậu học văn" cho thế hệ trẻ, đặc biệt là các thế hệ học sinh đang học tập, rèn luyện dưới mái Trường Tiểu học Vĩnh Ô nhằm khơi dậy trong các em niềm tự hào về một quê hương Vĩnh Ô anh hùng với những thế hệ thầy cô giáo tâm huyết với nghề, với những thế hệ học sinh luôn làm theo Năm điều Bác Hồ dạy. Từ đó giúp các em có ý thức phấn đấu, học tập, rèn luyện để góp phần xây dựng quê hương, đất nước vì mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh".

 

Nhiều thầy, cô giáo tâm sự:

Trong khi các em học sinh miền xuôi hàng ngày được ba, mẹ đưa đón thì những học sinh Vân Kiều ở vùng núi phía Tây Quảng Trị, người “nhỏ thó như chú mèo con” phải tự mình lội qua hàng chục con suối, nhiều đèo cao mới đến được trường, lớp. Địa hình cách trở, nhiều sông suối cũng là một nguyên nhân khiến cái đói, cái nghèo cứ đeo đẳng người dân Vân Kiều vùng phía Tây Quảng Trị.

Do địa hình nhiều đồi núi, sông suối cách trở khiến việc học tập của các em học sinh gặp rất nhiều khó khăn. Để kịp giờ học, học sinh nơi đây phải dậy từ rất sớm, khi trời tờ mờ sáng, các em đã cõng trên vai chiếc cặp sách rồi lội bì bõm qua các con suối, hoặc trèo đèo để đến lớp. Nói là cặp sách nhưng đó cũng chỉ là chiếc túi nhỏ đựng một ít vật dụng cá nhân, bởi sách vở, bút viết, bảng con…các em còn không có thì lấy đâu ra cặp sách.

Về mùa này, các con suối cũng trở nên hung dữ, chảy cuồn cuộn, đục ngầu nhưng các em vẫn buộc phải đi qua để đến lớp. Có khi nước sâu ngang ngực nhưng các em cũng phải nhắm mắt đánh liều qua suối. Đến được lớp thì quần áo bị ướt sũng, thân hình tím tái, chân tay run bần bật vì cái lạnh luồn sâu. Chỉ khi nào nước dâng cao và chảy quá xiết thì phụ huynh các em mới cõng qua. Cũng vì quá nguy hiểm nên nhiều em đã chọn cách băng rừng để đến trường. Tuy nhiên, mưa kéo dài cũng khiến đường rừng trở nên trơn trượt, nếu không cẩn thận là rất dễ bị sẩy chân.

Trường Tiểu học Vĩnh Ô có tất cả 3 điểm trường với tổng số 141 học sinh. Trong đó, điểm trường trung tâm có gần 90 học sinh. Điểm trường lẻ tại bản Xà Lời (bản 4), cách trung tâm hơn 6 km đường rừng có 4 lớp với 28 em và điểm trường bản Mít (bản 8) cách xa gần 20 km, có 3 lớp với 24 học sinh. Từ trung tâm, muốn đến với điểm trường tại bản 4 phải lội qua 9 con suối, đến bản 8 phải lội thêm 5 con suối sâu, địa hình rất phức tạp. Nếu sống ở bản 2, bản 3, hàng ngày học sinh phải lội qua 2 - 3 con suối mới đến được trung tâm. Nói như thế để thấy rằng chuyện các em học sinh Vĩnh Ô lội suối đến trường đã trở nên xưa cũ. Và để thích nghi, nhiều em nhỏ buộc phải làm quen với việc lội suối từ khi mới bước vào lớp 1. Tuy nhiên, do cơ thể các em quá nhỏ, gầy yếu nên việc lội suối cũng tiềm ẩn nhiều hiểm nguy khó lường.

Trên con đường học chữ đầy gian nan với biết bao mối nguy hiểm rình rập mỗi ngày. Thậm chí, một số em từng bị trượt ngã, nước cuốn trôi khi lội qua suối. May mắn là đến nay vẫn chưa có trường hợp nào tử vong. Khó khăn như vậy nhưng các em vẫn cần mẫn đến trường học chữ, chỉ một số em sống ở những nơi quá xa mới bỏ lớp, bỏ trường.

So với học sinh miền xuôi, các em phải chịu thiệt thòi quá nhiều, do dân trí thấp, địa hình cách trở, cơ sở vật chất thiếu thốn. Để các em không bị tụt hậu, mù chữ, các thầy, cô phải tích cực cắm bản nhằm góp phần xóa đi cái đói, cái nghèo, viết ước mơ cho các em từ con chữ. Bên cạnh đó, đưa sự nghiệp giáo dục miền ngược xích lại gần hơn với miền xuôi. Lo lắng cho học sinh, Ban giám hiệu trường Tiểu học Vĩnh Ô đã nhiều lần vận động phụ huynh đưa con em đến trường. Tuy nhiên, hầu hết người dân địa phương đều bận với việc rẫy nương. Vì vậy, họ đành “phó mặc” sự an toàn của con em mình cho... ông trời, cho thầy, cô.

Trường Tiểu học Vĩnh Ô là một trong những trường khó khăn nhất của huyện Vĩnh Linh và tỉnh Quảng Trị. Hiện cơ sở vật chất của trường còn thiếu thốn rất nhiều, tại điểm trường trung tâm cũng chỉ có 6 phòng học, nhưng đã bị xuống cấp nặng. Về mùa mưa, mái của các phòng bị dột nát, ẩm ướt nên phải bố trí cho các em học dạt sang hai bên. Nhiều phòng học chưa đủ trang thiết bị để phục vụ dạy học. Ngay như sách giáo khoa và các dụng cụ học tập cho các em cũng chưa đáp ứng đủ, hàng năm trường phải vận động từ các nhà tài trợ để xin thêm sách giáo khoa cũ cho các em học sinh. Nhiều bàn ghế đã bị xuống cấp, hư hỏng nhiều nhưng chưa được trang bị lại. Tại các điểm trường lẻ cũng không có phòng học và phải mượn tạm nhà sinh hoạt cộng đồng, hoặc nhà nội trú của giáo viên để làm nơi giảng dạy cho các em. Các trang thiết bị bên trong như bảng viết, bàn ghế và nhiều dụng cụ thiết yếu vẫn chưa có…

Tình trạng học sinh phải hàng ngày lội suối đến lớp, thầy Minh cho biết: “Với các thầy cô, chuyện ngày ngày vượt suối để đi dạy đã là một thử thách. Thế nên, chúng tôi hiểu sự khó khăn, nguy hiểm mà học sinh của trường phải đối mặt. Trước đây, người dân địa phương và các thành niên tình nguyện đã dựng cầu tạm, đắp đất đá để làm đường cho học sinh qua suối. Thế nhưng, chỉ sau vài trận mưa lớn, nước suối đã cuốn đi tất cả. Chúng tôi đã trăn trở khá nhiều về vấn đề này nhưng đến giờ vẫn lực bất tòng tâm”.

Thầy Hồ Văn Ninh tâm sự: “Vì thương học trò ở các bản xa đi học trong điều kiện cách trở, rồi đâm ra chán nản, bỏ học, mình phải vào tận bản để dạy chữ cho các em. Học sinh miền núi bị thiệt thòi so với miền xuôi nhiều lắm. Ngoài việc phải băng rừng, lội suối đến trường thì các điều kiện thiết yếu phục vụ cho việc học tập như sách vở, bút mực… cũng thiếu thốn rất nhiều. Đến được trường thì quần áo, sách vở các em ướt sũng hết cả, ngồi co lại với nhau, thấy tội nghiệp lắm. Ngay cả trường học cũng hết sức chật chội, bị xuống cấp, có nơi phải mượn tạm nhà công vụ của giáo viên, nhà sinh hoạt cộng đồng để dạy học. Mình là giáo viên, bổn phận của mình là dạy học, cũng mong muốn không để các em phải thất học nên chịu khó một chút thôi chứ biết sao giờ”.

Cô Hồ Thị Liên nói “Về mùa hè, nước suối cạn còn đỡ chứ về mùa mưa, nước chảy xiết nhưng cũng cố mà lội qua. Đến nơi thì người lạnh tím, vội vàng thay quần áo để kịp lên lớp giảng bài. Mình có sức khỏe mà cũng như thế thì huống chi các em học sinh người nhỏ thó mà phải hàng ngày lội suối đến trường. Có lúc cả người lẫn cặp sách bị trôi tuột cũng phải cố vùng vẫy mà bơi qua".

Thầy Hồ Văn Hải – Phó hiệu trưởng trường Tiểu học Vĩnh Ô vẫn còn nhớ như in về những lần cõng học trò qua sông để về trung tâm học chữ. Thầy Hải kể: “Năm 1997, mình được phân công về công tác tại trường Vĩnh Ô và sau đó lên bản 8 để dạy chữ cho học trò. Thời điểm đó, cũng vào mùa mưa như năm nay nên học sinh nghỉ học rất nhiều buộc mình phải đi vận động các em đến lớp. Để đưa học sinh qua suối, mình phải cõng từng em một. Do nước suối dâng cao nên có lúc cả thầy và trò đều bị trượt chân và trôi theo nước. Tuy nhiên, do có kinh nghiệm về bơi lội nên mình đã nhanh chóng đưa được học sinh qua suối an toàn”.

Những lần sau đó cũng vậy, thầy Hải lại đi từng nhà dân để vận động con em đến trường. Sau khi đã tập trung các em ra bờ suối, thầy lại cõng từng em qua. Được vài năm thì thầy chuyển về làm quản lý ở điểm trường trung tâm. Thấm thoắt cũng đã 15 năm trôi qua, thầy Hải vẫn chưa quên được cảm giác sợ hãi trong những lần đó. Bây giờ nghĩ lại thầy vẫn rùng mình.

“Học sinh miền núi đi học gian nan lắm, suối sâu cách trở nên chuyện bị trượt chân ngã xuống nước cũng xảy ra thường xuyên. Những khi có giáo viên hoặc phụ huynh đi cùng thì an tâm hơn, còn để các em tự mình lội suối thì quá nguy hiểm. Rất may là chưa có trường hợp học sinh nào đi học mà bị sẩy chân...” - thầy Hải tâm sự.

Dù rất thương học sinh nhưng qua mấy năm trời miệt mài "cắm bản" dạy chữ, cô Thu vẫn mang nhiều trăn trở: “Là một người con của bản làng nên mình rất hiểu những khó khăn của học trò. Các em bị thiệt thòi quá nhiều, mọi thứ phục vụ việc học đều rất thiếu thốn. Chính vì không muốn để học sinh bị mù chữ, rồi tương lai phải gắn bó cả đời với rẫy nương mà cái đói cái nghèo vẫn cứ bám riết nên mình chịu khó hi sinh một chút, chấp nhận khó khăn để lên bản dạy chữ cho các em. Tuy nhiên, mình rất sợ các em vì khó khăn mà phải nghỉ học để theo cha, mẹ lên nương, lên rẫy. Đã có không ít trường hợp thầy, cô phải bỏ công đi vận động, thuyết phục phụ huynh cho con trở lại trường. Niềm vui đối với các thầy, cô và cũng là món quà quý giá nhất của những người đứng trên bục giảng là mong sao các em không bỏ trường, bỏ lớp”.

Thầy Hồ Văn Hoàn tâm sự: “Nếu không có lòng yêu thương học trò, sự tận tâm với nghề, thì có lẽ chẳng ai đủ nhiệt thành để bám trụ chốn thâm sơn cùng cốc này”. Để thay lời kết, xin được trích dẫn những lời ca dưới đây như một lời cảm ơn đến đội ngũ những người làm công tác giảng dạy. Chính họ đã làm cho cuộc sống này trở nên tươi đẹp hơn, chắp cánh ước mơ cho biết bao thế hệ, những hoạt động thầm lặng đó xứng đáng được xã hội mãi tôn vinh”./.

Ban giám hiệu Trường TH Vĩnh Ô